Giỗ Tổ Hùng Vương: Ngày tưởng niệm vị vua nào trong 18 đời vua Hùng?

Nhiều người dân Việt Nam vẫn còn băn khoăn về ý nghĩa của ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, đặc biệt là về vị vua cụ thể nào được tưởng nhớ vào ngày 10/3 Âm lịch hàng năm. Đó là một dịp đặc biệt để tri ân những người đã góp phần xây dựng đất nước.

Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương diễn ra vào ngày mùng 10/3 Âm lịch mỗi năm, là dịp để nhân dân Việt Nam tôn vinh công lao của các vị vua trong thời kỳ dựng nước. Theo truyền thuyết, triều đại Hùng Vương kéo dài qua 18 đời vua, và từ đây, nhiều người đặt câu hỏi về việc ngày 10/3 là ngày mất của vị vua Hùng nào trong số họ.

Ngày 10/3 là ngày giỗ của vị vua Hùng nào?

Để tìm hiểu câu hỏi trên, chúng ta cần quay về với truyền thuyết về gia tộc Hùng Vương. Kinh Dương Vương đã kết hôn với Long Nữ và sinh ra Lạc Long Quân. Lạc Long Quân cùng Âu Cơ đã sinh ra 100 người con, trong đó một người đã lên ngôi và được gọi là Hùng Vương. Các đời vua sau này cũng mang tên Hùng.

Với truyền thuyết như vậy, Hùng Vương đầu tiên được xem là cháu đích tôn của Kinh Dương Vương, do đó ngày Giỗ Tổ Hùng Vương có thể được coi là ngày giỗ của Kinh Dương Vương – tổ phụ của ông.

Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng lễ giỗ tổ tiên của vua Hùng không phải là tổ tiên mà chính là vua Hùng, người được xem là tổ của dân tộc Việt. Điều này làm cho lễ giỗ Hùng Vương đầu tiên trở nên đáng chú ý hơn.

Thông tin từ tấm bia Hùng Vương do Bùi Ngọc Hoàn, Tham tri Bộ Lễ, lập vào năm Bảo Đại thứ 15 (1940) lại mang đến một góc nhìn mới mẻ. Bia này hiện đang được đặt tại Đền Thượng trên núi Hùng, cho thấy rằng có thể chúng ta đang tưởng nhớ vị vua Hùng cuối cùng. Bia ghi rõ: “Trước đây, ngày quốc tế được xác lập vào mùa thu. Đến năm Khải Định thứ hai, Tuần phủ Phú Thọ là Lê Trung Ngọc đã có công văn xin Bộ Lễ ấn định ngày mồng 10 tháng Ba hàng năm làm ngày quốc tế, tức là trước ngày giỗ Hùng Vương đời thứ 18 một ngày. Còn ngày giỗ (11 tháng Ba) do dân sở tại tổ chức.”

Dù chưa thể xác định rõ ngày 10/3 là lễ giỗ của vị vua Hùng nào, nhưng từ các tài liệu lịch sử, chúng ta có thể thấy lễ Giỗ Tổ Hùng Vương đã có từ rất lâu rồi.

Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng ngày Giỗ Tổ Hùng Vương có lịch sử hơn 2.000 năm. Thời kỳ của Thục Phán An Dương Vương, một cột đá thề đã được dựng trên núi Nghĩa Lĩnh với lời nguyện: “Nguyện có đất trời lồng lộng chứng giám, nước Nam được trường tồn lưu ở miếu Tổ Hùng Vương, xin đời đời trông nom lăng miếu họ Hùng và gìn giữ giang sơn mà Hùng Vương đã trao lại; nếu thất hẹn, sai thề sẽ bị gió giăng, búa dập”.

Hàng năm, lễ Giỗ Tổ Hùng Vương không chỉ nhằm tưởng nhớ một vị vua cụ thể nào mà còn để tri ân toàn bộ các vua Hùng, những người đã đặt nền móng cho quốc gia. Đây là dịp để nhân dân thể hiện lòng biết ơn và tôn vinh công lao của tổ tiên, cũng như củng cố tinh thần đoàn kết và tự hào dân tộc trong mỗi người Việt.

Giỗ Tổ Hùng Vương: Ngày tưởng niệm vị vua nào trong 18 đời vua Hùng?

Đoàn rước kiệu của các xã, phường, thị trấn vùng ven về Khu Di tích Lịch sử Quốc gia đặc biệt Đền Hùng. (Ảnh: TTXVN)

Danh sách 18 đời vua Hùng

Theo tài liệu lịch sử như “Đại Việt sử lược” và nhiều nguồn khác, triều đại này đã kéo dài qua 18 đời vua, bắt đầu từ Kinh Dương Vương và kết thúc với Hùng Duệ Vương. Dưới đây là danh sách và thông tin về các vị vua trong triều đại Hùng Vương:

  • 1. Kinh Dương Vương, húy Lộc Tục, sinh năm Nhâm Ngọ (2919 TCN), lên ngôi năm 41 tuổi, trị vì 86 năm, từ năm Nhâm Tuất (2879 TCN) đến Đinh Hợi (2794 TCN).
  • 2. Lạc Long Quân, húy Sùng Lãm, sinh năm Bính Thìn (2825 TCN), lên ngôi 33 tuổi, trị vì 269 năm, từ năm Mậu Tý (2793 TCN) đến Bính Thìn (2525 TCN).
  • 3. Hùng Quốc Vương, húy Hùng Lân, sinh năm Canh Ngọ (2570 TCN), lên ngôi năm 18 tuổi, trị vì 272 năm, từ năm Đinh Tỵ (2524 TCN) đến 2253 TCN.
  • 4. Hùng Hoa Vương, húy Bửu Lang, lên ngôi năm Đinh Hợi (2252 TCN), trị vì 342 năm, từ năm Đinh Hợi (2254 TCN) đến Mậu Thìn (1913 TCN).
  • 5. Hùng Hy Vương, húy Bảo Lang, sinh năm Tân Mùi (2030 TCN), lên ngôi năm 59 tuổi, trị vì 200 năm, từ Kỷ Tỵ (1912 TCN) đến Mậu Tý (1713 TCN).
  • 6. Hùng Hồn Vương, húy Long Tiên Lang, sinh năm Tân Dậu (1740 TCN), lên ngôi năm 29 tuổi, trị vì 81 năm, từ Kỷ Sửu (1712 TCN) đến Kỷ Dậu (1632 TCN).
  • 7. Hùng Chiêu Vương, húy Quốc Lang, sinh năm Quý Tỵ (1768 TCN), lên ngôi năm 18 tuổi, trị vì 200 năm, từ Canh Tuất (1631 TCN) đến Kỷ Tỵ (1432 TCN).
  • 8. Hùng Vỹ Vương, húy Vân Lang, sinh năm Nhâm Thìn (1469 TCN), lên ngôi năm 39 tuổi, trị vì 100 năm, từ Canh Ngọ (1431 TCN) đến Kỷ Dậu (1332 TCN).
  • 9. Hùng Định Vương, húy Chân Nhân Lang, sinh năm Bính Dần (1375 TCN), lên ngôi năm 45 tuổi, trị vì 80 năm, từ 1331 đến 1252 TCN.
  • 10. Hùng Uy Vương, húy Hoàng Long Lang, trị vì 90 năm, từ 1251 đến 1162 TCN.
  • 11. Hùng Trinh Vương, húy Hưng Đức Lang, sinh năm Canh Tuất (1211 TCN), lên ngôi năm 51 tuổi, trị vì 107 năm, từ năm Canh Tý (1161 TCN) đến Bính Tuất (1055 TCN).
  • 12. Hùng Vũ Vương, húy Đức Hiền Lang, sinh năm Bính Thân (1105 TCN), lên ngôi năm 52 tuổi, trị vì 86 năm, từ năm Đinh Hợi (1054 TCN) đến Nhâm Tuất (969 TCN).
  • 13. Hùng Việt Vương, húy Tuấn Lang, sinh năm Kỷ Hợi (982 TCN), lên ngôi năm 23 tuổi, trị vì 115 năm, từ Quý Hợi (968 TCN) đến Đinh Mùi (854 TCN).
  • 14. Hùng Anh Vương, húy Viên Lang, sinh năm Đinh Mão (894 TCN), lên ngôi năm 42 tuổi, trị vì 99 năm, từ 853 đến 755 TCN.
  • 15. Hùng Triệu Vương, húy Cảnh Chiêu Lang, sinh năm Quý Sửu (748 TCN), lên ngôi năm 35 tuổi, trị vì 94 năm, từ Đinh Hợi (754 TCN) đến Canh Thân (661 TCN).
  • 16. Hùng Tạo Vương, húy Đức Quân Lang, sinh năm Kỷ Tỵ (712 TCN), trị vì 92 năm, từ Tân Dậu (660 TCN) đến Nhâm Thìn (569 TCN).
  • 17. Hùng Nghị Vương, húy Bảo Quang Lang, sinh năm Ất Dậu (576 TCN), lên ngôi năm 9 tuổi, trị vì 160 năm, từ Quý Tỵ (568 TCN) đến Nhâm Thân (409 TCN).
  • 18. Hùng Duệ Vương, sinh năm Canh Thân (421 TCN), lên ngôi năm 14 tuổi, trị vì 150 năm, từ Quý Dậu (408 TCN) đến Quý Mão (258 TCN).

Các tên hiệu, năm sinh và thời gian trị vì của các vua Hùng trong các tài liệu cổ được ghi chép từ những truyền thuyết dân gian, không phải từ các sử liệu chính xác. Do đó, sử gia Ngô Thì Sĩ trong tác phẩm “Việt Sử tiêu án” viết năm 1775 đã đặt câu hỏi về tuổi thọ của các vua Hùng: “Người ta không phải là vàng đá, sao lại sống lâu được như vậy? Điều này thực sự khó hiểu“.

Thực tế, đây cũng là điều thường thấy ở nhiều nền văn hóa khi ghi chép về các triều đại từ thời xa xưa. Ví dụ, nhiều truyền thuyết về ba vị vua cổ đại của Trung Quốc (Tam Hoàng) cho biết họ đã trị vì hơn 100 năm.

Thậm chí, trong Sử ký Tư Mã Thiên, có nói rằng Tam Hoàng đã trị vì hàng chục nghìn năm. Cụ thể, Thiên Hoàng trị vì 18.000 năm; Địa Hoàng trị vì 11.000 năm; Nhân Hoàng trị vì 45.600 năm. Thiên Hoàng chính là Phục Hi, Địa Hoàng là Thần Nông, Nhân Hoàng là Hiên Viên thị, tức Hoàng Đế – ba vị quân chủ huyền thoại của người Trung Quốc.

Thiên Hoàng – trị vì 18.000 năm. Địa Hoàng – trị vì 11.000 năm. Nhân Hoàng – trị vì 45.600 năm.